Nhật Bản đã “nhập khẩu” chương trình và sách giáo khoa như thế nào

Nhật Bản đã “nhập khẩu” chương trình và sách giáo khoa như thế nào?

Thông tin Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam sẽ nghiên cứu phương án nhập khẩu chương trình phổ thông (các môn khoa học tự nhiên, công nghệ…) của Phần Lan làm cho nhiều người xao xuyến. Đã từ lâu khi chứng kiến và trải nghiệm những thất bại trong cải cách giáo dục ở Việt Nam, nhiều người bao gồm cả các giáo viên và chuyên gia đã nêu ra và đề nghị thực hiện phương án “nhập khẩu” chương trình và sách giáo khoa từ các nước tiên tiến. Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ lịch sử thì đây không phải là một ý tưởng mới. Trên thế giới từ rất lâu trước đó đã có nhiều quốc gia “nhập khẩu nguyên chiếc” hoặc “từng phần” chương trình, sách giáo khoa của nước khác. Ở châu Á, Nhật Bản khi cải cách để cận đại hóa đất nước theo mô hình phương Tây dưới thời Minh Trị đã chủ động “nhập khẩu” chương trình và sách giáo khoa của Mĩ.
Tạo ra điều kiện và môi trường để “nhập khẩu”
Để nhập khẩu chương trình và sách giáo khoa từ bên ngoài vào, Nhật Bản đã đi từ dò dẫm tới cải cách có tính hệ thống với tinh thần học hỏi phương Tây (Anh, Pháp, Mĩ, Đức) để “khai hóa văn minh”.
Hệ thống trường học, hệ thống giáo dục cận đại được xây dựng. Chế độ “học khu” quy định và xác lập số lượng các trường học ở trên một phạm vi đơn vị hành chính nhất định được áp dụng.
Bộ máy nhân sự của ngành giáo dục cũng được cơ cấu lại. Trong giai đoạn đầu khi xu hướng “khai sáng” chiếm chủ đạo, chính quyền Minh Trị đã sử dụng rất nhiều những người thuộc phái “Dương học” (Tây học) làm việc trong ngành giáo dục. Đây là những người đã từng du học, làm việc ở Châu Âu, Mĩ hoặc nghiên cứu sâu về phương Tây. Trong số này có rất nhiều người từng là quan chức, viên chức ngoại giao, giáo dục dưới thời Mạc phủ Tokugawa. Bộ trưởng giáo dục đầu tiên trong chính quyền Minh Trị là Mori Arinori cũng là một người từng du học và làm việc nhiều năm ở Anh, Mĩ. Mori Arinori là người thông thạo ngoại ngữ, hiểu biết sâu sắc về văn minh phương Tây và có hứng thú đặc biệt với giáo dục. Ông là vị bộ trưởng đã đặt nền móng cơ bản cho giáo dục hiện đại ở Nhật Bản.
Để tạo ra đội ngũ giáo viên thích hợp, chính phủ Nhật đã không ngần ngại thuê M. Scott một chuyên gia giáo dục Mĩ đến giảng dạy tại trường sư phạm. Ở đây ông ta vừa đảm nhận việc giảng dạy vừa thiết kế chương trình cho trường sư phạm và các trường phổ thông. Nhật Bản cũng đầu tư một khoản ngân sách lớn để trả lương cho các chuyên gia nước ngoài khác.
Chủ động “nhập khẩu” chương trình-sách giáo khoa nước ngoài
Những động thái như trên đã tạo ra cơ sở để tiếp nhận nội dung và phương pháp giáo dục mới. Trong giai đoạn khai sáng, chính phủ Minh Trị đặc biệt ưu tiên các sách có nội dung về khoa học kĩ thuật và tình hình các nước phương Tây. Những cuốn sách bán chạy đương thời là những cuốn sách này.
Ngày 5 tháng 9 năm 1872, chính phủ Minh Trị ban hành “Học chế”. “Học chế” là văn bản của nhà nước quy định thống nhất về hệ thống trường học, chương trình, nội dung, hành chính giáo dục trong toàn quốc. Tham gia biên soạn và giám sát việc thực thi học chế là những người Tây học trong đó nổi bật là vai trò của 12 người thuộc phái Dương học như Mitsukuri Rinsho, Uchida Masao.
Trong tác phẩm “Cải cách giáo dục Nhật Bản” (1999), giáo sư Ozaki Mugen thừa nhận rằng ở giai đoạn đầu của thời kì Minh Trị, Nhật Bản đã sử dụng y nguyên chương trình giáo dục của các trường tiểu tiểu học Mĩ .
Các cuốn sách giáo khoa trong thời kì này chủ yếu là sách dịch. Ví dụ cuốn sách tập đọc tiểu học rất nổi tiếng của Bộ giáo dục Nhật xuất bản năm 1873 có trang viết: “Hãy nhìn chú mèo kìa! Chú đang ở trên giường. Hãy đùa chú mèo xinh tươi, hãy nhảy lên giường. Bạn hãy đuổi bắt chú mèo nào. Khi đặt lên bàn tay, chắc chắn chú mèo sẽ cắn lấy tay tôi”. Nguyên tác của đoạn này lấy từ tập văn vần Wilson Reader được sử dụng trong các trường miền Đông nước Mĩ. Chính vì vậy mà người ta cho rằng nội dung trong sách và từ ngữ rất khác với từ ngữ thông dụng hàng ngày ở Nhật Bản.
Không chỉ là sách giáo khoa và chương trình. Sự du nhập lý luận giáo dục của phương Tây cũng được đẩy mạnh. Các cuốn sách dịch như “Bách khoa toàn thư giáo đạo thuyết” (Chambers biên soạn, Mitsukuri Rinsho dịch, 1873), “Lý luận giờ học của Pagei” (Calkins biên soạn, Kurosawa Hisato dịch, 1876) đã được xuất bản và trở nên được yêu thích ở Nhật Bản.
Bên cạnh đó các cuốn sách có tính chất kinh điển của phương Tây như “Khế ước xã hội” của Rouseau, “Kinh tế luận” của Mill, “Lập hiến chính thể luận” của Spencer, “Quốc phú luận” của Smith cũng được sử dụng làm sách giáo khoa tại các trường tư thục như Lập chí học xá của Tosa, Thạch Dương quán của Fukushima, Thiên Kiều nghĩa thục..
“Nhập khẩu” để hướng đến tự chủ, sáng tạo
Người Nhật đã vừa sử dụng sách vở, chương trình của phương Tây vừa học hỏi và dần dần tự chủ được toàn bộ. Những du học sinh được cử đi và tự túc đi du học ở các nước Phương Tây khi trở về đã góp phần từng bước biên soạn ra các chương trình và sách giáo khoa cho Nhật Bản. Nhật Bản hạn chế dần việc sử dụng các chuyên gia nước ngoài trong thiết kế chương trình và làm sách giáo khoa, chuyển giao sang cho các học giả người Nhật.
Nhờ truyền thống và di sản nói trên mà sau năm 1945, mặc dù chịu cảnh đổ nát vì chiến tranh và phải tiến hành cải cách thay đổi đột ngột 180 độ, người Nhật đã tự soạn ra được chương trình và sách giáo khoa cải cách trên cơ sở lắng nghe tư vấn của Sứ đoàn giáo dục Mĩ thay vì “nhập khẩu nguyên chiếc”.
Chương trình và sách giáo khoa của rất nhiều môn học mới như “Nghiên cứu xã hội”, “Nghiên cứu tự do”, “Các vấn đề thời sự”… đã được biên soạn tốt dù chỉ trong một thời gian ngắn. Đặc biệt các tài liệu quy định chương trình cho trường phổ thông như “Hướng dẫn học tập môn xã hội”, “Hướng dẫn học tập bản tổng quát” cho dù được biên soạn gấp vẫn chứa đựng tư tưởng triết lý và các nguyên lý cơ bản sâu sắc, có giá trị mà đến nay vẫn còn đắc dụng.

6 thoughts on “Nhật Bản đã “nhập khẩu” chương trình và sách giáo khoa như thế nào

  1. Hà Ngọc Thuỷ

    September 6, 2017 4:45

    Mình thích bài viết này!

    • Nguyễn Quốc Vương

      September 6, 2017 4:45

      hehe. cảm ơn bạn nhá

  2. Hà Ngọc Thuỷ

    September 6, 2017 4:48

    Nghiên cứu và tìm ra vấn đề thật sự có tính vấn đề, còn ai vận dụng đến đây tuỳ thuộc vào độ thẩm thấu và điều kiện cho phép. Cá nhân mình thấy đây cũng là một giải pháp cần được ưu tiên. Cái j ta chưa tự chủ tốt thì cần đi học để làm theo, thậm chí làm theo một mẫu có sẵn mà làm tốt cũng là…quá tốt

  3. Nguyễn Quốc Vương

    September 6, 2017 5:29

    ah. có sách trải nghiệm rồi nhé. Mai mình mang lên trường qua lấy nhé . sáng chiều đều được. 170k nhé.

  4. Hà Ngọc Thuỷ

    September 6, 2017 5:30

    Nguyễn Quốc Vương ok cậu! Mai mình qua sp nhé! Cho xin số đt đi để còn call chứ

  5. Nguyễn Quốc Vương

    September 6, 2017 6:08

    ok

Write your comment Here